Vỏ quả cà phê sau khi xát và phân chuồng là hai nguồn phân hữu cơ sẵn có nhất của nông hộ vùng hồ Tà Đùng. Cả hai nên được ủ cho hoai trước khi bón: vỏ cà phê tươi đổ thẳng vào gốc dễ lên men, sinh nóng, có mùi và tạm thời hút đạm của đất; phân chuồng tươi có thể mang mầm bệnh và hạt cỏ. Phân hữu cơ hoai bón quanh tán mỗi năm giúp đất đỏ giữ mùn, giữ ẩm và giữ phân hoá học tốt hơn.
Đất đỏ bazan mất mùn nhanh dưới nắng mưa nhiệt đới, như các bài trong danh mục đất, nước và khí hậu đã nói. Trả lại chất hữu cơ cho đất đều đặn là cách bền nhất để giữ đất tốt. Bài này nói về nguyên lý ủ và dùng; công thức chế phẩm cụ thể nên làm theo hướng dẫn của nơi cung cấp và cán bộ khuyến nông.
Vì sao đất vườn cà phê cần hữu cơ dù đã bón đủ phân hoá học
Phân hoá học cung cấp chất dinh dưỡng; chất hữu cơ cung cấp "chỗ chứa". Mùn trong đất giữ lại đạm, kali, canxi, magie như một miếng bọt biển giữ nước, nhả dần cho rễ cây. Đất ít mùn, phân bón vào nhanh chóng bị rửa trôi; đất nhiều mùn, phân ở lại lâu hơn.
Mùn còn làm đất tơi, giữ ẩm, giúp rễ đi sâu, nuôi một hệ vi sinh vật và giun đất phong phú. Một số vi sinh vật trong đất giàu hữu cơ còn cạnh tranh với các tác nhân gây bệnh rễ. Đất đỏ chua nhiều mùn cũng ít bị sốc pH hơn khi bón phân.
Cà phê trồng thuần, bón phân hoá học nhiều năm, không trả lại hữu cơ là con đường dẫn tới đất chai, chua, kiệt, năng suất giảm dù phân bón tăng. Nhiều vườn già cỗi ở Tây Nguyên đi qua chính con đường này trước khi phải tái canh.
Vỏ cà phê: nguồn hữu cơ ngay tại nhà
Mỗi mùa hái, sau khi xát quả khô hoặc sơ chế ướt, nông hộ có một lượng vỏ đáng kể. Vỏ cà phê chứa chất hữu cơ và một phần kali, đạm. Đổ bỏ hoặc đốt là lãng phí nguồn phân tự nhiên ngay trên vườn của mình.
Nhưng vỏ tươi không nên đổ dày vào gốc. Khi phân huỷ, vỏ tươi lên men, sinh nhiệt, có thể làm tổn thương rễ non sát mặt đất; vi sinh vật phân giải vỏ tạm thời lấy đạm của đất để dùng, làm cây thiếu đạm trong một thời gian; đống vỏ ẩm còn là chỗ cho ruồi, nấm mốc và mùi hôi. Vỏ của cà phê sơ chế ướt còn có thịt quả, nhớt, lên men nhanh và có tính chua hơn.
Ủ là cách biến vỏ thành phân hoai: vật liệu đã phân giải, nguội, tơi, không còn mùi hôi, dùng an toàn cho cây. Thời gian ủ phụ thuộc cách làm, có hay không có chế phẩm vi sinh, độ ẩm và đảo trộn; thường cần vài tháng.
Nguyên lý ủ vỏ cà phê thành phân hoai
Có nhiều cách ủ; dưới đây là các nguyên lý chung. Nếu dùng chế phẩm vi sinh, làm theo hướng dẫn của sản phẩm về liều và cách pha:
- Chọn chỗ ủ cao ráo, không đọng nước, có mái che hoặc phủ bạt, cách xa giếng, ao và khe suối để nước rỉ từ đống ủ không chảy vào nguồn nước.
- Trộn vỏ cà phê với vật liệu giàu đạm như phân chuồng để cân bằng, vì vỏ nghèo đạm hơn so với nhu cầu của vi sinh vật phân giải.
- Làm ẩm đều: nắm một nắm vật liệu bóp chặt thấy rỉ nước nhẹ giữa kẽ tay là vừa; quá khô vi sinh không hoạt động, quá ướt đống ủ yếm khí và bốc mùi.
- Đánh đống theo lớp, mỗi lớp vỏ xen một lớp phân chuồng và chế phẩm nếu có; đống đủ lớn để giữ nhiệt nhưng không quá cao gây nén.
- Phủ kín bằng bạt để giữ ẩm, giữ nhiệt, tránh mưa làm trôi dinh dưỡng.
- Đảo trộn định kỳ để cấp khí và cho phần ngoài vào trong; bổ sung nước nếu khô.
- Phân đạt khi đống đã nguội, vật liệu sẫm màu, tơi, mùi đất, không còn nhận ra hình dạng vỏ ban đầu rõ ràng.
Đống ủ đúng cách nóng lên rõ rệt trong những tuần đầu; nhiệt độ ấy giúp diệt một phần mầm bệnh và hạt cỏ. Đống ủ không nóng thường do thiếu đạm, thiếu ẩm hoặc quá nhỏ.
Phân chuồng: dùng đúng để không mang bệnh vào vườn
Phân bò, phân heo, phân gà từ chăn nuôi trong vùng là nguồn hữu cơ giàu dinh dưỡng hơn vỏ cà phê. Nhưng phân chuồng tươi có thể chứa mầm bệnh, hạt cỏ dại, và khi phân huỷ trong đất cũng sinh nhiệt, sinh khí gây hại cho rễ. Bón phân tươi sát gốc là cách làm nhiều vườn đã phải trả giá.
Phân chuồng nên được ủ hoai, có thể ủ riêng hoặc ủ chung với vỏ cà phê như trên. Phân gà, phân heo đậm đặc hơn phân bò, dùng lượng ít hơn và cẩn thận hơn. Khi mua phân chuồng từ nơi khác, nên hỏi nguồn gốc, tránh phân lẫn nhiều rác, nilon, hoặc từ trại có dùng nhiều chất sát trùng.
Người ủ và bón phân chuồng nên đeo găng tay, ủng, rửa tay kỹ sau khi làm. Không để trẻ nhỏ chơi gần đống ủ. Dụng cụ dùng cho phân chuồng nên để riêng, rửa sạch sau khi dùng, không dùng chung với dụng cụ hái hay phơi cà phê để tránh lây bẩn sang hạt.
Bón hữu cơ: lúc nào, ở đâu, bao nhiêu
Phân hữu cơ hoai thường được bón vào đầu mùa mưa, có thể đào rãnh hoặc hố ở mép tán, bỏ phân vào rồi lấp đất; hoặc rải trên mặt bồn rồi tủ lên. Đào rãnh giúp phân xuống sâu vùng rễ và ít trôi trên dốc, nhưng tốn công và cần tránh làm đứt rễ lớn; nhiều vườn đào rãnh luân phiên mỗi năm một phía của gốc.
Lượng phân hữu cơ không cần chính xác như phân hoá học, nhưng cũng không phải càng nhiều càng tốt trong một lần. Các quy trình kỹ thuật thường khuyến cáo bón hữu cơ định kỳ, vài năm một lần với lượng lớn hoặc hằng năm với lượng vừa. Quan trọng là đều đặn.
Khi đã bón hữu cơ, có thể điều chỉnh giảm một phần phân hoá học theo hướng dẫn kỹ thuật, vì hữu cơ cũng mang theo dinh dưỡng và giúp cây hút phân tốt hơn. Điều chỉnh từ từ, theo dõi phản ứng của cây, đừng cắt phân hoá học đột ngột.
Phân xanh và cành lá tỉa: hữu cơ không phải chở
Ngoài vỏ cà phê và phân chuồng, vườn tự sinh ra nguồn hữu cơ: cành lá tỉa, cỏ phát, lá cây che bóng rụng xuống. Băm nhỏ cành lá tỉa và rải vào bồn hoặc giữa hàng là cách trả hữu cơ cho đất mà không cần chở đi chở lại.
Một số vườn trồng cây phân xanh họ đậu giữa hàng, nhất là ở vườn mới trồng hoặc tái canh khi tán cà phê chưa khép. Cây họ đậu có vi khuẩn nốt sần cố định đạm từ không khí; khi cắt vùi hoặc tủ gốc, chúng trả lại cả chất hữu cơ lẫn đạm. Cốt khí, muồng hoa vàng, một số loại đậu là những cây hay được nhắc ở vùng cà phê Tây Nguyên.
Cây phân xanh cần được quản lý: phát định kỳ để không cao quá, không tranh ánh sáng và nước với cà phê con, đặc biệt trong mùa khô. Cắt trước mùa khô và tủ thành lớp phủ là cách dùng chúng hiệu quả nhất.
Giữ sạch khi ủ: vùng hồ cần cẩn thận hơn
Ở vùng sát hồ thủy điện Đồng Nai 3 và Vườn quốc gia Tà Đùng, nước rỉ từ đống vỏ cà phê, đống phân chuồng, đặc biệt là nước thải sơ chế ướt, nếu chảy thẳng xuống khe suối sẽ làm ô nhiễm nguồn nước, gây mùi và ảnh hưởng tới các hộ phía dưới. Nước thải giàu chất hữu cơ khi xuống hồ còn làm nước kém trong.
Đặt chỗ ủ cách xa nguồn nước, có rãnh gom nước rỉ dẫn ngược lại vào đống ủ hoặc vào hố thấm, có mái che để mưa không cuốn trôi, là những việc nhỏ nhưng cần thiết. Vỏ cà phê không đổ thành đống lớn ở mép khe hay ven đường.
Với hộ có sơ chế ướt, nước thải từ bể ngâm và máy xát cần đi vào hố lắng hoặc hố thấm đặt xa khe, không xả thẳng xuống dốc. Quy định về bảo vệ môi trường đối với hoạt động chế biến nông sản có thể áp dụng tuỳ quy mô; hộ làm nhiều nên hỏi chính quyền xã về yêu cầu hiện hành.
Phân hữu cơ mua sẵn: đọc thông tin trước khi mua
Không phải hộ nào cũng có đủ vỏ cà phê và phân chuồng để ủ. Phân hữu cơ, hữu cơ vi sinh, hữu cơ khoáng đóng bao bán ở cửa hàng vật tư là lựa chọn tiện lợi. Thị trường phân hữu cơ đa dạng, chất lượng không đều, nên cần đọc kỹ thông tin trước khi mua.
Những điều nên xem trên bao: hàm lượng chất hữu cơ, độ ẩm, các chỉ tiêu dinh dưỡng đi kèm, mật độ vi sinh vật nếu là phân vi sinh, thông tin công nhận lưu hành, nhà sản xuất, hạn dùng. Phân hữu cơ có độ ẩm cao thì một bao nặng nhưng chất hữu cơ thực ít; so sánh theo hàm lượng hữu cơ khô mới công bằng.
Phân vi sinh là sản phẩm sống: bảo quản nơi râm mát, không để dưới nắng, dùng trước hạn, không trộn chung với vôi hay phân hoá học đậm đặc khi bón vì có thể làm chết vi sinh vật. Nếu nghi ngờ chất lượng, hỏi khuyến nông hoặc hợp tác xã xem những sản phẩm nào đã được nhà vườn trong vùng dùng thử có kết quả.
Ghi lại để biết hữu cơ có tác dụng hay không
Tác dụng của phân hữu cơ không thấy ngay sau vài tuần như phân đạm. Nó hiện ra chậm, qua màu đất sẫm hơn, đất tơi hơn khi cuốc, giun đất xuất hiện nhiều hơn, bồn giữ ẩm lâu hơn sau tưới, cây ít bị sốc trong mùa khô. Vì chậm nên dễ bị bỏ qua, và nhiều hộ bỏ dở sau một hai năm vì "không thấy gì".
Cách đánh giá đơn giản là so sánh: một khu bón hữu cơ đều đặn, một khu tương tự không bón, cùng chăm như nhau, ghi lại qua vài năm về độ ẩm đất, màu lá, năng suất ước tính. Lấy mẫu đất định kỳ cũng cho thấy chất hữu cơ trong đất có tăng lên không.
Những ghi chép ấy giúp quyết định có nên tiếp tục đầu tư công ủ phân, mua thêm phân chuồng hay không, dựa trên vườn của mình chứ không dựa trên lời quảng cáo.
Câu hỏi thường gặp
Có nên đổ vỏ cà phê tươi vào gốc cây không?
Không nên đổ dày sát gốc. Vỏ tươi lên men sinh nhiệt, có thể hại rễ non, tạm thời hút đạm của đất và gây mùi, ruồi. Nên ủ cho hoai trước, hoặc nếu dùng tươi thì rải mỏng giữa hàng xa gốc.
Ủ vỏ cà phê mất bao lâu?
Thường vài tháng, tuỳ cách ủ, độ ẩm, có trộn phân chuồng và chế phẩm vi sinh hay không, và việc đảo trộn. Phân đạt khi đống đã nguội, vật liệu sẫm màu, tơi, có mùi đất và không còn mùi hôi.
Phân chuồng tươi bón cho cà phê được không?
Không nên bón phân chuồng tươi sát gốc, vì có thể mang mầm bệnh, hạt cỏ và khi phân huỷ sinh nhiệt, sinh khí hại rễ. Nên ủ hoai trước khi bón, đặc biệt với phân gà và phân heo đậm đặc.
Bón phân hữu cơ rồi có cần bón phân hoá học nữa không?
Thường vẫn cần, vì cà phê kinh doanh lấy đi nhiều dinh dưỡng mỗi năm. Hữu cơ giúp đất giữ phân tốt hơn và có thể cho phép giảm dần một phần phân hoá học theo hướng dẫn kỹ thuật, kèm theo dõi phản ứng của cây.
Chế phẩm vi sinh ủ phân có cần thiết không?
Không bắt buộc, vì vật liệu vẫn tự phân huỷ, nhưng chế phẩm phù hợp có thể giúp ủ nhanh và đều hơn. Nên chọn sản phẩm có thông tin rõ ràng, làm theo hướng dẫn sử dụng và hỏi khuyến nông địa phương.
Đống ủ phân không nóng lên là do đâu?
Thường do đống quá nhỏ, quá khô hoặc quá ướt, hoặc thiếu đạm khi chỉ có vỏ cà phê. Thêm phân chuồng, điều chỉnh độ ẩm, đánh đống lớn hơn và đảo trộn để cấp khí là các cách khắc phục.