Trên cà phê vối ở vùng hồ Tà Đùng, nơi mùa mưa ẩm và sương nhiều, bốn nhóm bệnh đáng để ý nhất là: gỉ sắt (đốm bột vàng cam ở mặt dưới lá), nấm hồng (lớp nấm màu hồng trên cành, cành khô chết), khô cành khô quả (cành, chùm quả khô đen, thường do cây kiệt sức kết hợp nấm thán thư) và vàng lá thối rễ (cây vàng, rễ thối, liên quan tới tuyến trùng và nấm trong đất). Nền tảng phòng chung là tán thông thoáng, vệ sinh vườn, cây khoẻ, đất thoát nước tốt; thuốc chỉ dùng khi cần và theo tư vấn chuyên môn.
Bài này giúp nhận biết qua triệu chứng ngoài vườn và hiểu điều kiện phát sinh để phòng. Chẩn đoán chắc chắn, nhất là với bệnh rễ, cần cán bộ bảo vệ thực vật xem trực tiếp hoặc gửi mẫu kiểm tra. Bài không nêu tên thuốc hay liều.
Bệnh gỉ sắt: đốm cam ở mặt dưới lá
Gỉ sắt là bệnh do nấm Hemileia vastatrix gây ra, một trong những bệnh nổi tiếng nhất của cây cà phê trên thế giới. Dấu hiệu đặc trưng là những đốm vàng nhạt ở mặt trên lá, lật mặt dưới lá ra thấy những đám bột màu vàng cam như gỉ sắt, sờ vào dính bột ở tay. Đốm lớn dần, liên kết lại, lá vàng và rụng sớm.
Cây bị gỉ sắt nặng rụng nhiều lá, quang hợp kém, không đủ sức nuôi quả và ra cành mới, ảnh hưởng tới năng suất cả vụ sau. Cà phê chè nhạy cảm với gỉ sắt hơn cà phê vối; nhiều dòng vối có khả năng kháng tốt, nhưng không phải dòng nào cũng vậy, và bệnh vẫn có thể xuất hiện trên những cây vối mẫn cảm.
Bào tử gỉ sắt cần nước trên mặt lá để nảy mầm, nên bệnh phát triển mạnh trong mùa mưa, ở vườn tán rậm, ẩm lâu. Gió và mưa bắn mang bào tử từ cây này sang cây khác.
Bệnh nấm hồng: lớp phấn hồng trên cành
Nấm hồng do nấm Corticium salmonicolor (nay có tên khoa học Erythricium salmonicolor) gây ra. Bệnh thường bắt đầu ở mặt dưới hoặc chạc của cành, nơi giữ ẩm lâu. Ban đầu là những sợi nấm trắng như mạng nhện trên vỏ cành; sau đó phát triển thành lớp màu hồng nhạt đến hồng cam bám trên vỏ. Phần cành phía trên chỗ bệnh héo, lá vàng rồi khô, quả trên cành bệnh khô đen, cành chết.
Nấm hồng phát triển mạnh trong mùa mưa, nhất là giai đoạn mưa nhiều kéo dài, ẩm độ cao, ở những vườn tán rậm, che bóng dày, ít gió. Đặc điểm vùng hồ, với sương và độ ẩm cao, làm nấm hồng là bệnh cần theo dõi kỹ ở những vườn trong khe, gần mặt nước.
Điểm quan trọng là phát hiện sớm khi mới ở giai đoạn sợi trắng. Lúc này cắt bỏ cành bệnh, mang ra khỏi vườn, là đủ để chặn lây lan. Để tới khi cành đã khô, nấm đã sinh bào tử, bệnh có thể lan sang nhiều cành, nhiều cây.
Khô cành khô quả: khi cây kiệt sức gặp nấm
Khô cành khô quả là hiện tượng các cành, nhất là cành mang nhiều quả, khô dần từ đầu cành vào; chùm quả non thâm đen, khô, rụng. Hiện tượng này thường liên quan tới nhiều nguyên nhân cùng lúc: cây mang quá nhiều quả so với sức nuôi, thiếu dinh dưỡng, thiếu nước trong giai đoạn quả lớn, kèm theo nấm thán thư (thuộc chi Colletotrichum) tấn công những bộ phận đã yếu.
Vì vậy khô cành khô quả không đơn thuần là bệnh do nấm. Những vườn bón phân không cân đối, để cây ra quả quá nhiều năm này qua năm khác, không tỉa cành, thường bị nặng hơn. Thán thư cũng có thể gây đốm trên lá và trên quả, đặc biệt trong điều kiện ẩm ướt.
Phòng khô cành khô quả, vì thế, bắt đầu từ chăm sóc tổng thể: bón phân đủ và cân đối, đặc biệt kali để nuôi quả; tưới đủ trong mùa khô; tỉa cành hợp lý để cây không mang quá nhiều cành quả; cắt bỏ cành khô, chùm quả bệnh, mang ra khỏi vườn.
Vàng lá thối rễ: bệnh từ dưới đất
Vàng lá thối rễ là vấn đề nghiêm trọng ở nhiều vùng cà phê Tây Nguyên, đặc biệt ở vườn già và vườn tái canh. Cây bị bệnh có lá vàng dần, thường từ lá già, cây còi cọc, ra ít cành mới, quả ít và nhỏ. Nhổ cây lên thấy rễ tơ ít, rễ cái và rễ ngang thối đen, có chỗ sần sùi, vỏ rễ bong ra dễ.
Các nghiên cứu ở Việt Nam đã xác định nguyên nhân thường là tổ hợp của tuyến trùng ký sinh rễ và nấm trong đất, trong đó nấm Fusarium thường được nhắc tới. Tuyến trùng gây vết thương trên rễ, mở đường cho nấm xâm nhập; rệp sáp hại rễ cũng có thể góp phần. Đất úng nước, đất kiệt mùn, cây con nhiễm bệnh từ vườn ươm là những yếu tố làm bệnh nặng hơn.
Triệu chứng vàng lá dễ nhầm với thiếu phân. Bón thêm phân cho cây đã thối rễ không giúp cây hồi phục, vì rễ không còn khả năng hút. Khi thấy cây vàng lá lan dần theo từng đám trong vườn, hãy đào kiểm tra rễ và mời cán bộ bảo vệ thực vật xem, có thể gửi mẫu đất, rễ để phân tích tuyến trùng.
Nguyên lý phòng bệnh rễ
Đất thoát nước tốt. Rãnh thoát nước ở chỗ trũng, không để nước đọng quanh gốc lâu ngày. Nấm và tuyến trùng gây hại rễ thường phát triển mạnh trong đất ẩm úng.
Đất giàu hữu cơ. Đất nhiều mùn có hệ vi sinh vật phong phú, trong đó có những loài cạnh tranh với tác nhân gây bệnh. Bón phân hữu cơ hoai đều đặn là biện pháp phòng bệnh rễ lâu dài.
Cây giống sạch bệnh. Khi trồng mới, trồng dặm hay tái canh, mua cây giống ở cơ sở có nguồn gốc rõ ràng; cây con có rễ khoẻ, không có rễ đen, không có nốt sần lạ.
Xử lý cây bệnh nặng. Cây chết, cây bệnh nặng nên nhổ bỏ cả rễ, mang ra khỏi vườn; hố trồng cũ cần xử lý và để thời gian trước khi trồng lại theo hướng dẫn khuyến nông.
Tái canh đúng quy trình. Đất trồng cà phê nhiều năm có mật độ tuyến trùng cao. Tái canh cần thời gian luân canh, cải tạo đất trước khi trồng lại, theo quy trình được ngành nông nghiệp khuyến cáo.
Hạn chế lây lan. Dụng cụ dùng ở khu có cây bệnh nên rửa sạch trước khi sang khu khác; tránh để nước chảy tràn từ khu bệnh sang khu khoẻ.
Nhận biết nhanh bốn nhóm bệnh
Bảng dưới gom các dấu hiệu chính để nhận biết ngoài vườn. Khi chưa chắc, hãy chụp ảnh rõ và hỏi cán bộ bảo vệ thực vật:
| Bệnh | Dấu hiệu chính | Thời kỳ hay gặp | Phòng ở mức vườn |
|---|---|---|---|
| Gỉ sắt | Bột vàng cam ở mặt dưới lá, lá rụng sớm | Mùa mưa, ẩm cao | Tán thoáng, giống kháng, theo dõi lá |
| Nấm hồng | Sợi trắng rồi lớp hồng trên cành, cành khô | Mùa mưa kéo dài | Phát hiện sớm, cắt bỏ cành bệnh, tỉa thoáng |
| Khô cành khô quả | Cành, chùm quả khô đen từ đầu cành | Khi cây mang nhiều quả, thiếu dinh dưỡng, nước | Bón cân đối, tưới đủ, tỉa cành |
| Vàng lá thối rễ | Lá vàng, cây còi, rễ thối đen | Quanh năm, nặng ở đất úng, vườn già | Thoát nước, hữu cơ, giống sạch, tái canh đúng |
Nhiều trường hợp ngoài vườn có hai ba vấn đề chồng lên nhau, như cây kiệt sức vừa khô cành vừa gỉ sắt. Nhìn tổng thể cây và vườn, không chỉ một triệu chứng.
Tán thông thoáng: biện pháp phòng bệnh lá và cành rẻ nhất
Ba bệnh trên lá và cành, gồm gỉ sắt, nấm hồng và thán thư, đều cần ẩm để phát triển. Ở vùng hồ, độ ẩm và sương là điều không thay đổi được, nhưng thời gian lá và cành ướt sau mỗi trận mưa, mỗi buổi sương thì người trồng điều khiển được qua độ thông thoáng của tán.
Tỉa cành tạo tán đúng cách, cắt chồi vượt đều đặn, tỉa bớt cây che bóng khi quá dày, giữ cỏ trong bồn sạch và cỏ giữa hàng thấp, tất cả đều giúp gió lưu thông qua tán, lá khô nhanh hơn. Đây là những việc đã có trong lịch chăm vườn, không tốn thêm vật tư, nhưng tác dụng phòng bệnh của chúng thường lớn hơn nhiều so với phun thuốc trên một vườn rậm.
Vệ sinh vườn là phần còn lại: cành bệnh, lá bệnh rụng nhiều, quả bệnh nên gom mang ra khỏi vườn thay vì để lại làm nguồn lây.
Khi nào cần dùng thuốc và hỏi ai
Có những năm thời tiết quá thuận cho bệnh, hoặc bệnh đã lan rộng, các biện pháp canh tác không đủ. Khi đó có thể cần dùng thuốc bảo vệ thực vật. Nguyên tắc chung là xác định đúng bệnh trước khi mua thuốc, chọn thuốc có trong danh mục được phép sử dụng và đăng ký cho cà phê, dùng đúng liều, đúng thời điểm theo hướng dẫn trên bao bì.
Cán bộ khuyến nông, cán bộ bảo vệ thực vật của địa phương là nơi nên hỏi đầu tiên. Họ có thể đến xem vườn, xác định bệnh, và biết những gì đang xảy ra ở các vườn khác trong vùng. Các hợp tác xã, tổ hợp tác cà phê cũng thường có người am hiểu kỹ thuật.
Tránh mua thuốc chỉ dựa vào lời giới thiệu ở cửa hàng khi chưa xác định rõ bệnh. Phun nhầm thuốc tốn tiền, không hiệu quả, và có thể làm chết thiên địch, ảnh hưởng tới các vấn đề khác trong vườn. Cách dùng thuốc an toàn có bài riêng ngay sau bài này.
Sổ theo dõi bệnh: thấy sớm, khoanh vùng sớm
Với cả bốn nhóm bệnh, thời điểm phát hiện quyết định chi phí xử lý. Một cành nấm hồng phát hiện ở giai đoạn sợi trắng chỉ cần một nhát kéo; để tới khi cả tán khô thì mất cả cây. Một đám cây vàng lá phát hiện khi mới ba bốn cây thì còn khoanh vùng được; để lan cả lô thì phải tính chuyện tái canh.
Cách làm đơn giản là đi vườn mỗi tuần theo một lộ trình cố định trong mùa mưa, nhìn mặt dưới vài lá ở tầng giữa tán, nhìn chạc cành, nhìn màu lá từ xa. Cây có dấu hiệu lạ buộc dây đánh dấu, ghi vào sổ ngày thấy, khu nào, triệu chứng gì. Lần sau quay lại đúng cây đó để xem tiến triển.
Ghi chép qua vài năm cũng cho thấy khu nào trong vườn hay bị bệnh nhất, thường là những khu trũng, gần khe, tán rậm. Những khu này nên được ưu tiên tỉa thoáng, thoát nước và theo dõi sát hơn.
Câu hỏi thường gặp
Làm sao phân biệt bệnh gỉ sắt với lá vàng do thiếu phân?
Lật mặt dưới lá: bệnh gỉ sắt có những đám bột màu vàng cam, sờ vào dính tay. Lá vàng do thiếu dinh dưỡng thường vàng đều hoặc vàng theo kiểu gân lá, không có lớp bột ở mặt dưới.
Cà phê vối có bị gỉ sắt không?
Có thể bị, dù nhìn chung cà phê vối ít nhạy cảm với gỉ sắt hơn cà phê chè và nhiều dòng vối có khả năng kháng tốt. Những cây mẫn cảm trong vườn ẩm, tán rậm vẫn có thể bị bệnh trong mùa mưa.
Thấy cành cà phê có lớp màu hồng thì làm gì?
Đó có thể là bệnh nấm hồng. Nên cắt bỏ cành bệnh xuống dưới chỗ bệnh một đoạn, mang ra khỏi vườn, lau dụng cụ trước khi sang cây khác, tỉa cho tán thoáng. Bệnh lan rộng thì hỏi cán bộ bảo vệ thực vật.
Vì sao vườn cà phê già hay bị vàng lá thối rễ?
Đất trồng cà phê lâu năm thường tích luỹ tuyến trùng và nấm hại rễ, đất kiệt mùn, cây già sức đề kháng giảm. Đất úng nước làm bệnh nặng hơn. Tái canh cần luân canh và cải tạo đất theo quy trình.
Khô cành khô quả có phải do nấm không?
Thường là kết hợp: cây mang quá nhiều quả, thiếu dinh dưỡng, thiếu nước làm cành yếu, rồi nấm thán thư tấn công. Phòng bằng bón phân cân đối, tưới đủ, tỉa cành và cắt bỏ phần bệnh.
Có cần phun thuốc phòng bệnh định kỳ cho cà phê không?
Không nên phun định kỳ theo lịch mà không có lý do. Ưu tiên tán thoáng, vệ sinh vườn, cây khoẻ, theo dõi thường xuyên; chỉ dùng thuốc khi đã xác định bệnh và theo tư vấn của cán bộ bảo vệ thực vật.