Vườn cà phê vối quanh hồ Tà Đùng thường gồm ba nhóm cây: cây thực sinh trồng từ hạt (lâu đời nhất, cây không đồng đều), cây ghép từ các dòng vô tính đã được cơ quan nghiên cứu chọn tạo và công nhận (như các dòng mang ký hiệu TR của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên), và các giống do nông dân tự chọn từ cây tốt trong vườn rồi nhân ra. Không có giống cà phê riêng của Tà Đùng; vùng hồ dùng những giống vối chung của Tây Nguyên.
Chọn giống là quyết định đắt nhất của một vườn cà phê, vì cây đứng đó hàng chục năm. Bài này giải thích từng nhóm giống theo nguyên lý, nói tên khi tên đó đã được công bố rộng rãi, và chỉ ra những điều cần hỏi khi mua cây. Bài không xếp hạng giống nào "tốt nhất": giống hợp vườn này có thể không hợp vườn khác, và tình trạng công nhận giống thay đổi theo thời gian, nên luôn hỏi cơ quan khuyến nông hoặc nơi bán về giấy tờ hiện hành.
Vì sao cà phê vối có nhiều "giống" đến vậy
Cà phê vối (Coffea canephora) là loài thụ phấn chéo: hoa của một cây gần như không đậu quả bằng phấn của chính nó, mà cần phấn từ cây khác. Hệ quả là mỗi hạt sinh ra là con lai giữa cây mẹ và một cây bố không biết trước, nên cây trồng từ hạt rất khác nhau về tán, cỡ quả, năng suất, sức chống bệnh. Một vườn thực sinh là một tập hợp hàng nghìn cá thể khác nhau.
Sự đa dạng đó vừa là vấn đề vừa là nguồn để chọn lọc. Trong một vườn thực sinh luôn có vài cây nổi bật hẳn: sai quả, hạt to, ít bệnh. Nhà nghiên cứu và người trồng tách những cây ấy ra, nhân bằng cách ghép hoặc giâm cành để giữ nguyên đặc tính, gọi là dòng vô tính. Mỗi dòng là bản sao di truyền của một cây mẹ.
Vì thế khi người ta nói "giống cà phê vối", có thể đang nói về ba thứ rất khác nhau: một quần thể hạt lai (thực sinh), một dòng vô tính cụ thể (bản sao một cây), hoặc một tên gọi dân gian cho cây tốt trong vườn ai đó. Hiểu rõ mình đang nói về loại nào giúp tránh mua nhầm và kỳ vọng sai.
Nhóm thứ nhất: cây thực sinh trồng từ hạt
Đặc điểm. Trồng từ hạt, cây khoẻ, rễ cọc đâm sâu, chịu khô hạn khá. Nhưng cây trong vườn không đồng đều: cây sai, cây ít, cây chín sớm, cây chín muộn, cây nhiễm bệnh, cây ít bệnh nằm lẫn với nhau.
Ở vùng hồ. Nhiều vườn lâu năm quanh hồ bắt đầu từ cây thực sinh, vì khi người đến khai rẫy, cây con từ hạt là thứ dễ có và rẻ nhất. Một phần các vườn này về sau được ghép cải tạo bằng dòng tốt.
Giống thực sinh có chọn lọc. Không phải mọi hạt đều như nhau. Có những giống thực sinh được tạo bằng cách lấy hạt từ vườn chỉ trồng các dòng bố mẹ đã chọn, để con lai có trung bình tốt hơn hạt lấy ngẫu nhiên. TRS1 là một giống thực sinh như vậy, được giới thiệu rộng rãi ở Tây Nguyên. Hạt kiểu này phải lấy đúng từ vườn sản xuất hạt giống; lấy hạt từ cây con của nó trồng tiếp thì đặc tính lại phân ly.
Phù hợp khi nào. Khi cần cây rễ sâu cho vùng khô, khi vốn ít, hoặc khi định ghép cải tạo về sau trên gốc thực sinh khoẻ.
Nhóm thứ hai: dòng vô tính đã được chọn tạo và công nhận
Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (thường gọi tắt là WASI, đặt ở Đắk Lắk) đã chọn tạo một loạt dòng cà phê vối vô tính mang ký hiệu TR (ví dụ TR4, TR9, TR11), cùng giống thực sinh TRS1 đã nói ở trên. Danh sách dòng được công nhận còn được bổ sung theo thời gian, nên muốn biết đủ và đúng thì tra tài liệu của viện. Các dòng này được chọn theo năng suất, cỡ hạt, khả năng chống bệnh gỉ sắt và thời gian chín, và được giới thiệu cho sản xuất qua nhiều giai đoạn. Ở vùng hồ, cây ghép từ các dòng này khá phổ biến trong các vườn trồng mới và vườn ghép cải tạo.
Dòng vô tính có ưu điểm lớn là đồng đều: cùng một dòng, các cây có tán, cỡ quả, lịch chín gần giống nhau, dễ chăm, dễ hái. Nhưng chính vì cây vối cần phấn từ cây khác, một vườn không thể chỉ trồng một dòng; khuyến cáo phổ biến là trồng xen nhiều dòng (thường không dưới bốn – năm dòng) theo hàng hoặc theo khối để hoa thụ phấn chéo được với nhau.
Đặc tính chính xác của từng dòng (năng suất trong thử nghiệm, cỡ hạt, thời gian chín) có trong tài liệu của viện và cơ quan khuyến nông; bài này không chép lại số liệu vì các con số đó phụ thuộc điều kiện thử nghiệm và có thể đã được cập nhật. Khi chọn dòng cho vườn quanh hồ, nên hỏi trạm khuyến nông hoặc người làm giống uy tín xem dòng nào chín vào thời điểm nào, để phối hợp lịch hái.
Nhóm thứ ba: giống nông dân tự chọn
Từ đâu ra. Trong vườn có một cây đặc biệt sai quả, hạt to, ít bệnh; chủ vườn lấy chồi, cành của cây đó ghép nhân ra, đặt tên theo tên mình, tên vùng hay đặc điểm cây. Một số tên dân gian lan rộng khắp Tây Nguyên, như "xanh lùn" — gọi theo dáng cây thấp, lá xanh đậm.
Ưu điểm. Cây đã được thử thách thực tế trong vườn nông dân, nhiều giống cho kết quả tốt trong điều kiện thâm canh.
Rủi ro. Tình trạng được cơ quan có thẩm quyền công nhận khác nhau giữa các tên, và cùng một tên gọi có thể là cây khác nhau ở mỗi nơi bán. Khi chỉ có một dòng trong vườn, đậu quả kém vì thiếu phấn chéo. Cây giống bán theo tên dân gian rất khó kiểm tra có đúng là cây mẹ đó hay không.
Cách mua cẩn thận. Hỏi nơi bán nguồn cành ghép (vườn cây đầu dòng nào), giấy tờ của vườn ươm, và tình trạng công nhận của giống ở thời điểm hiện tại. Không mua cả vườn một tên gọi duy nhất.
So sánh ba nhóm giống theo những điều người trồng quan tâm
Bảng dưới đây là so sánh định tính, theo nguyên lý chung, không phải số đo của một vườn cụ thể.
| Tiêu chí | Thực sinh | Dòng vô tính công nhận | Giống nông dân tự chọn |
|---|---|---|---|
| Độ đồng đều trong vườn | Thấp | Cao trong từng dòng | Cao nếu đúng cây mẹ |
| Rễ, sức chịu khô | Rễ cọc khoẻ | Tùy gốc ghép | Tùy gốc ghép |
| Ra quả lần đầu | Muộn hơn | Sớm hơn (cây ghép) | Sớm hơn (cây ghép) |
| Cần trồng xen nhiều dòng | Không cần (đã đa dạng) | Bắt buộc | Nên có |
| Kiểm tra nguồn gốc | Khó biết hạt từ cây nào | Có hệ thống vườn đầu dòng | Khó, dễ nhầm tên |
| Giá cây con | Thường thấp hơn | Thường cao hơn | Dao động |
Không có ô nào trong bảng là tuyệt đối. Một vườn thực sinh chăm kỹ vẫn có thể cho năng suất ổn; một vườn dòng tốt mà trồng một dòng, chăm kém vẫn thất bại. Giống là nền móng, không phải tất cả.
Chọn tổ hợp dòng cho vườn đồi ven hồ: lịch chín và sức người hái
Khi đã quyết định trồng hay ghép bằng dòng vô tính, câu hỏi tiếp theo là trộn những dòng nào. Ngoài yêu cầu thụ phấn chéo, người trồng quanh hồ nên nghĩ tới lịch chín. Mỗi dòng có thời gian chín khác nhau: có dòng chín sớm, có dòng chín muộn. Trộn các dòng chín lệch nhau giúp kéo dài mùa hái, chia công ra nhiều đợt, không bị dồn quả chín cùng lúc trong khi thiếu người hái — chuyện hay gặp ở vùng đồi, nơi mỗi lượt gùi quả xuống dốc đều tốn sức.
Mặt khác, chín lệch quá nhiều trong cùng một hàng cây lại làm khâu hái chọn phức tạp, dễ hái lẫn quả xanh của dòng chín muộn khi hái dòng chín sớm. Cách dung hoà nhiều nơi áp dụng là trồng theo khối hoặc theo hàng: mỗi hàng hay mỗi khối một dòng, các khối đặt xen kẽ đủ gần để phấn bay qua lại, nhưng đủ tách để hái theo đợt.
Ngoài lịch chín, vườn trên đồi cao, lộng gió nên ưu tiên dòng có tán gọn, cành dẻo; vườn sát hồ ẩm nên để ý dòng có sức chống bệnh nấm lá tốt theo tài liệu công bố. Không có công thức chung, nhưng có một nguyên tắc: ghi chép. Một sơ đồ vườn ghi rõ dòng ở từng hàng là tài sản quý cho mọi quyết định chăm, hái, ghép về sau.
Còn cà phê chè và cà phê mít thì sao
Thỉnh thoảng có người hỏi có nên trồng thử cà phê chè (arabica) quanh hồ để bán giá cao hơn. Cà phê chè cần vùng mát hơn, thường ở độ cao lớn như các cao nguyên quanh Đà Lạt; ở vùng hồ ấm hơn, cây dễ bị bệnh gỉ sắt, quả chín không đều, vị không đạt như vùng cao. Nếu muốn thử, chỉ nên trồng vài cây trên phần cao nhất, khuất nắng gắt của vườn, coi đó là thí nghiệm, không đặt cược thu nhập.
Cà phê mít (nhóm liberica – excelsa) chịu nóng, chịu hạn tốt, cây cao, đôi khi được trồng làm hàng rào, chắn gió quanh vườn vối. Một số nơi bắt đầu quan tâm tới hạt cà phê mít như sản phẩm lạ. Ở vùng hồ, đây vẫn là cây phụ; nếu trồng, nên hái và phơi riêng để không lẫn vào nhân vối khi bán.
Với phần lớn nông hộ, lựa chọn thực tế vẫn là cà phê vối với tổ hợp dòng phù hợp. Muốn đa dạng thu nhập thì nghĩ tới cây trồng xen, chuyện của danh mục chăm vườn, hơn là đổi loài cà phê.
Những câu cần hỏi trước khi mua cây giống cho vườn quanh hồ
Danh sách dưới đây áp dụng cho cả trồng mới, trồng dặm và mua chồi ghép cải tạo.
- Cây thực sinh hay cây ghép? Nếu thực sinh, hạt lấy từ đâu; nếu ghép, gốc ghép là gì, chồi ghép dòng nào.
- Cành ghép lấy từ vườn cây đầu dòng nào, vườn đó có được cơ quan chuyên môn công nhận không.
- Lô cây gồm những dòng nào, tỉ lệ mỗi dòng ra sao, có đủ để thụ phấn chéo không.
- Lịch chín của từng dòng: chín sớm, chín giữa hay chín muộn; vườn có nhân lực hái theo lịch đó không.
- Giống có chịu được bệnh gỉ sắt, tuyến trùng tới đâu theo tài liệu công bố.
- Vườn ươm có giấy tờ, có cam kết đổi cây chết do lỗi cây giống trong thời gian nhất định không.
Thông tin về giống được công nhận và vườn đầu dòng có thể hỏi ở trạm khuyến nông, phòng kinh tế của xã hoặc cơ quan nông nghiệp của tỉnh Lâm Đồng mới. Quy định về cây giống cây công nghiệp có thể thay đổi, nên kiểm thông tin hiện hành.
Câu hỏi thường gặp
Có giống cà phê riêng của Tà Đùng không?
Không. Vườn quanh hồ Tà Đùng trồng các giống và dòng cà phê vối chung của Tây Nguyên: cây thực sinh, các dòng vô tính được chọn tạo như nhóm TR, và giống nông dân tự chọn. Cái riêng của vùng nằm ở đất, khí hậu và cách chăm, không ở một giống đặc hữu.
Vì sao vườn cà phê ghép phải trồng nhiều dòng?
Cà phê vối là loài thụ phấn chéo, hoa gần như không đậu quả bằng phấn của chính cây đó hay cây cùng dòng. Trồng một dòng duy nhất thì hoa thiếu phấn từ cây khác, đậu quả kém. Khuyến cáo phổ biến là xen nhiều dòng, thường không dưới bốn – năm dòng.
Dòng TR là gì?
TR là ký hiệu các dòng cà phê vối vô tính do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên chọn tạo, như TR4, TR9, TR11. Mỗi dòng là bản sao của một cây mẹ được chọn vì năng suất, cỡ hạt hoặc khả năng chống bệnh. Đặc tính chi tiết nên tra tài liệu của viện và khuyến nông.
Cây thực sinh có kém hơn cây ghép không?
Không hẳn. Cây thực sinh có rễ cọc khoẻ, chịu khô tốt nhưng không đồng đều về năng suất và chất lượng. Cây ghép từ dòng tốt đồng đều, cho quả sớm hơn. Nhiều vườn dùng gốc thực sinh khoẻ rồi ghép dòng tốt lên để lấy cả hai ưu điểm.
Giống xanh lùn có phải giống được công nhận không?
Xanh lùn là tên gọi dân gian lan rộng ở Tây Nguyên. Cùng một tên có thể là cây khác nhau tùy nơi bán, và tình trạng công nhận có thể thay đổi theo thời gian. Khi mua, hỏi nguồn cành ghép, giấy tờ vườn ươm và kiểm với cơ quan khuyến nông.
Có nên trồng cà phê chè quanh hồ Tà Đùng không?
Vùng hồ ấm hơn các cao nguyên trồng cà phê chè, cây dễ bị gỉ sắt và cho hạt không đạt như vùng cao. Nếu muốn, chỉ nên thử vài cây ở chỗ cao, mát nhất của vườn như một thí nghiệm, không đặt cược thu nhập vào đó.