Ở thời điểm biên soạn, chưa thấy thông tin công bố về chỉ dẫn địa lý hay nhãn hiệu tập thể mang tên "Tà Đùng" cho cà phê; chữ Tà Đùng trên các gói cà phê hiện nay là tên vùng do người làm tự ghi. Muốn biết chắc tình trạng mới nhất, bạn tra cơ sở dữ liệu sở hữu công nghiệp do Cục Sở hữu trí tuệ công bố, vì việc đăng ký có thể được tiến hành bất kỳ lúc nào.
Câu hỏi này quan trọng với cả người mua lẫn người trồng. Người mua cần biết chữ trên bao bì cam kết tới đâu. Người trồng cần hiểu nếu muốn tên vùng hồ có giá trị bảo hộ thật thì phải đi con đường nào, mất công thế nào. Bài này giải thích các khái niệm theo Luật Sở hữu trí tuệ (ban hành năm 2005, đã qua nhiều lần sửa đổi, gần đây là năm 2022) ở mức nguyên lý, không thay tư vấn pháp lý; khi làm thật, cần đọc văn bản hiện hành và hỏi cơ quan chuyên môn.
Chỉ dẫn địa lý là gì và vì sao không phải nơi nào cũng có
Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ một khu vực, địa phương cụ thể, mà danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính của sản phẩm chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực đó quyết định. Điều kiện địa lý ở đây gồm cả yếu tố tự nhiên (đất, khí hậu, địa hình) và yếu tố con người (kỹ thuật, tập quán sản xuất truyền thống).
Mấu chốt nằm ở chữ "chủ yếu do". Để được bảo hộ, phải chứng minh được mối liên hệ giữa đặc tính sản phẩm và vùng đất bằng hồ sơ: mô tả đặc tính (chất lượng hạt, vị), bản đồ khu vực, quy trình sản xuất, bằng chứng danh tiếng. Việc này cần khảo sát, phân tích, tốn thời gian và nguồn lực, thường do chính quyền địa phương hoặc tổ chức đại diện người sản xuất đứng ra làm.
Ở Việt Nam, cà phê Buôn Ma Thuột được bảo hộ chỉ dẫn địa lý từ năm 2005, thường được nhắc như một trong những chỉ dẫn địa lý sớm nhất của cả nước. Với một vùng như hồ Tà Đùng, nơi cà phê chủ yếu phát triển trong vài chục năm gần đây và quy mô nhỏ hơn, việc xây hồ sơ chỉ dẫn địa lý là bài toán dài hơi, không phải chuyện ghi tên lên gói là xong.
Bốn thứ hay bị nhầm với nhau trên gói cà phê
Bảng dưới đặt cạnh nhau bốn khái niệm người mua hay gặp. Nội dung là nguyên lý chung; chi tiết điều kiện, thủ tục phụ thuộc văn bản hiện hành.
| Khái niệm | Ai sở hữu, ai cấp | Nói lên điều gì | Với cà phê vùng hồ |
|---|---|---|---|
| Tên vùng tự ghi | Không ai cấp; người làm tự ghi | Người làm muốn gắn sản phẩm với vùng | Tình trạng phổ biến hiện nay |
| Chỉ dẫn địa lý | Nhà nước là chủ sở hữu; tổ chức được giao quản lý | Đặc tính sản phẩm gắn với điều kiện địa lý đã được chứng minh | Chưa thấy công bố cho Tà Đùng |
| Nhãn hiệu tập thể | Một tổ chức tập thể (hợp tác xã, hội) đăng ký | Sản phẩm của thành viên tổ chức đó, theo quy chế chung | Có thể là bước đi khả thi hơn nếu có tổ chức đứng ra |
| Nhãn hiệu chứng nhận | Tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận | Sản phẩm đạt tiêu chí nguồn gốc, chất lượng do tổ chức đó đặt ra | Thường do chính quyền địa phương hoặc hội nghề đứng tên |
Điểm chung của ba hình thức có bảo hộ là đều có quy chế sử dụng, có người quản lý và có thể bị thu hồi quyền dùng nếu vi phạm. Tên vùng tự ghi thì không có những ràng buộc đó, nên cũng không có sự bảo đảm đó.
Nhãn hiệu tập thể: con đường gần hơn cho một vùng nhỏ
Bắt đầu từ một tổ chức thật. Nhãn hiệu tập thể cần một chủ thể là tổ chức tập thể, như hợp tác xã hoặc hội của người sản xuất. Nếu quanh hồ chưa có tổ chức như vậy đủ mạnh, việc đầu tiên là gom người làm cà phê lại với nhau, không phải đi nộp đơn.
Quy chế sử dụng là phần khó nhất. Quy chế ghi rõ ai được dùng tên, sản phẩm phải đạt tiêu chí gì (vùng trồng, cách hái, cách sơ chế), ai kiểm tra, vi phạm thì xử lý thế nào. Quy chế quá lỏng làm tên vô nghĩa; quá chặt thì ít ai đạt.
Đăng ký là thủ tục hành chính. Đơn đăng ký nộp tới cơ quan quản lý sở hữu công nghiệp, kèm mẫu nhãn, quy chế sử dụng, danh sách sản phẩm. Thời gian xét đơn tính bằng tháng tới năm; chi tiết hồ sơ, phí, mẫu đơn cần kiểm theo quy định hiện hành.
Giữ tên mới là việc lâu dài. Có nhãn hiệu rồi mà không ai kiểm soát, sản phẩm kém vẫn mang tên, người mua mất lòng tin và tên mất giá trị. Nhiều nhãn hiệu tập thể nông sản ở Việt Nam đã rơi vào cảnh có văn bằng mà không ai dùng. Cái khó thật sự nằm ở sau khi được cấp.
OCOP và các chứng nhận: chứng cho sản phẩm, không chứng cho vùng
Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) đánh giá, phân hạng sản phẩm theo số sao, do hội đồng cấp tỉnh hoặc trung ương thực hiện. Một gói cà phê có sao OCOP cho biết sản phẩm của một chủ thể cụ thể (hợp tác xã, doanh nghiệp, hộ kinh doanh) đã qua đánh giá theo bộ tiêu chí của chương trình, về chất lượng, bao bì, khả năng sản xuất, câu chuyện sản phẩm. Nó không có nghĩa mọi cà phê cùng vùng đều đạt mức đó, cũng không phải chỉ dẫn địa lý.
Các chứng nhận khác như chứng nhận hữu cơ, chứng nhận bền vững, chứng nhận an toàn thực phẩm cũng gắn với một đơn vị, một vườn hay một chuỗi cụ thể, có tổ chức cấp và thời hạn hiệu lực. Khi thấy dấu chứng nhận trên gói, cách đọc đúng là: ai cấp, cấp cho ai, còn hiệu lực không. Dấu hiệu nào có mã số, có tên tổ chức cấp, tra được, là dấu hiệu có giá trị.
Tóm gọn cho người mua: chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu tập thể nói về vùng và cộng đồng người làm; OCOP và các chứng nhận nói về một sản phẩm, một cơ sở. Cả hai loại đều có ích, nhưng đừng đọc loại này thành loại kia.
Tự kiểm một cái tên trên gói cà phê có được bảo hộ không
Nếu bạn là người mua cẩn thận, người bán muốn dùng tên vùng, hoặc người trồng đang tính chuyện đăng ký, có thể tự kiểm theo các bước nguyên lý sau.
- Đọc kỹ nhãn: chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu tập thể, chứng nhận thường có biểu trưng riêng kèm dòng ghi chú, không chỉ là tên vùng in to.
- Tra cơ sở dữ liệu sở hữu công nghiệp do Cục Sở hữu trí tuệ công bố, gõ tên vùng và nhóm sản phẩm cà phê, xem có văn bằng hoặc đơn đang xét không.
- Nếu có, đọc tên chủ sở hữu, tổ chức quản lý, phạm vi khu vực và sản phẩm được bảo hộ.
- Hỏi người bán có được phép dùng dấu đó không, có giấy tờ cho phép không.
- Nếu không tìm thấy gì, hiểu tên vùng trên gói là tên tự ghi, và đánh giá gói cà phê bằng các thông tin khác: vườn, mùa vụ, cách làm, ngày rang.
Cơ sở dữ liệu có thể chưa cập nhật kịp các đơn mới, và tên gọi tra cứu có thể ghi khác cách gọi thông thường. Khi cần chắc chắn cho việc kinh doanh, hỏi trực tiếp cơ quan quản lý hoặc người có chuyên môn về sở hữu trí tuệ.
Người làm cà phê quanh hồ dùng tên vùng thế nào cho đúng
Khi chưa có chỉ dẫn địa lý hay nhãn hiệu tập thể, ghi "cà phê vối trồng ở xã Tà Đùng, Lâm Đồng" là mô tả nguồn gốc, hợp lý nếu đúng sự thật. Rủi ro nằm ở việc ghi sai: gói chứa phần lớn nhân nơi khác mà ghi Tà Đùng, hoặc mượn cách trình bày khiến người mua tưởng là sản phẩm được chứng nhận. Những việc đó có thể vi phạm quy định về nhãn hàng hoá và cạnh tranh, và trước hết là làm hỏng uy tín chung của vùng.
Một cách dùng tên lành mạnh là ghi cụ thể: tên thôn, tên vườn, mùa vụ, cách sơ chế. Càng cụ thể, người mua càng tin, và chính sự cụ thể đó dần dần tạo nên danh tiếng — thứ mà một hồ sơ chỉ dẫn địa lý sau này cần chứng minh. Danh tiếng không thể đăng ký trước rồi mới có; nó phải có trước, rồi mới đăng ký.
Ngoài ra, người làm cũng nên để ý tới các nhãn hiệu riêng đã được đăng ký có chứa chữ "Tà Đùng" cho những nhóm sản phẩm khác. Nếu định đăng ký nhãn hiệu riêng cho cơ sở mình, tra trước để tránh trùng, và nhờ người có chuyên môn xem giúp phạm vi bảo hộ.
Vì sao người mua vẫn nên quan tâm dù chưa có bảo hộ
Chưa có chỉ dẫn địa lý không làm cà phê vùng hồ kém đi. Nhiều vùng cà phê ngon trên thế giới cũng không có chỉ dẫn địa lý; danh tiếng của họ đến từ từng vườn, từng người rang. Với người mua, điều thực tế là tìm người làm minh bạch, mua lại từ họ, và góp phần bằng cách hỏi đúng câu hỏi.
Mỗi lần người mua hỏi "nhân lấy ở thôn nào, phơi thế nào", người bán lại có thêm lý do để làm rõ nguồn gốc và làm kỹ hơn. Theo thời gian, những người làm tốt được nhận ra, tên vùng hồ được gắn với chất lượng thật. Nếu một ngày vùng hồ có hồ sơ chỉ dẫn địa lý hay nhãn hiệu tập thể, nó sẽ được dựng trên chính danh tiếng đó.
Người mua ở xa cũng có thể góp phần theo cách nhỏ: khi đã tìm được một người làm tốt, giới thiệu cho người quen kèm thông tin cụ thể về vườn và cách làm, thay vì chỉ nói "cà phê Tà Đùng ngon". Lời truyền miệng cụ thể giúp người làm tốt được phân biệt với người chỉ mượn tên, và là loại danh tiếng bền nhất.
Với người trồng, tín hiệu từ người mua cũng là thông tin quý: những câu hỏi lặp lại về cách phơi, ngày rang cho thấy thị trường đang trả công cho sự minh bạch.
Còn hiện tại, khi đọc chữ Tà Đùng trên gói, hãy đọc nó như một lời giới thiệu, rồi kiểm phần còn lại bằng nhãn, bằng câu hỏi và bằng một ly đen không đường.
Câu hỏi thường gặp
Cà phê Tà Đùng đã có chỉ dẫn địa lý chưa?
Ở thời điểm biên soạn, chưa thấy thông tin công bố về chỉ dẫn địa lý cho cà phê mang tên Tà Đùng. Để biết tình trạng mới nhất, tra cơ sở dữ liệu sở hữu công nghiệp do Cục Sở hữu trí tuệ công bố hoặc hỏi cơ quan quản lý địa phương.
Chỉ dẫn địa lý khác nhãn hiệu tập thể thế nào?
Chỉ dẫn địa lý gắn đặc tính sản phẩm với điều kiện địa lý đã được chứng minh, Nhà nước là chủ sở hữu và giao tổ chức quản lý. Nhãn hiệu tập thể do một tổ chức tập thể như hợp tác xã đăng ký, dùng cho sản phẩm của thành viên theo quy chế chung.
Sao OCOP trên gói cà phê có nghĩa là gì?
Sao OCOP cho biết sản phẩm của một chủ thể cụ thể đã được hội đồng đánh giá, phân hạng theo bộ tiêu chí của chương trình Mỗi xã một sản phẩm. Đó là đánh giá cho sản phẩm đó, không phải chỉ dẫn địa lý của vùng và không bảo đảm cho mọi cà phê cùng vùng.
Có được ghi chữ Tà Đùng lên gói cà phê không?
Mô tả đúng nguồn gốc như cà phê trồng ở xã Tà Đùng, Lâm Đồng là hợp lý nếu đúng sự thật. Không nên ghi khi phần lớn nhân từ nơi khác, hay trình bày khiến người mua tưởng là sản phẩm được chứng nhận. Nên kiểm quy định hiện hành về nhãn hàng hoá.
Muốn đăng ký nhãn hiệu tập thể cho cà phê vùng hồ thì bắt đầu từ đâu?
Bắt đầu từ một tổ chức tập thể thật của người làm cà phê, như hợp tác xã. Sau đó xây quy chế sử dụng (vùng trồng, tiêu chí chất lượng, kiểm soát), rồi mới nộp đơn tới cơ quan quản lý sở hữu công nghiệp. Nên nhờ người có chuyên môn hỗ trợ hồ sơ.
Chưa có chỉ dẫn địa lý thì cà phê vùng hồ có kém hơn không?
Không. Chỉ dẫn địa lý là công cụ bảo hộ tên, không phải thước đo vị. Nhiều vùng cà phê ngon không có chỉ dẫn địa lý. Chất lượng một gói vẫn phụ thuộc vào vườn, cách hái, phơi và rang của người làm.