Cây cà phê không có sẵn ở vùng hồ Tà Đùng: nó vào Việt Nam theo người Pháp từ thế kỷ 19, lên Tây Nguyên qua các đồn điền đầu thế kỷ 20, rồi theo chân những gia đình đi lập nghiệp mà phủ lên đồi đất đỏ vùng Đắk Glong cũ, chủ yếu trong vài chục năm gần đây. Hồ thủy điện Đồng Nai 3 và Vườn quốc gia Tà Đùng đến sau, vẽ lại đường viền của các vườn: phía dưới là mặt nước, phía trên là rừng được bảo vệ.
Bài này kể lại hành trình đó ở mức các mốc đã được ghi nhận rộng rãi, không dựng chuyện về một người, một năm cụ thể ở xã khi không có nguồn. Những gì riêng của từng thôn, từng dòng họ là chuyện người địa phương kể tốt hơn mọi bài viết; ở đây chỉ là khung để bạn hiểu vì sao hôm nay quanh hồ lại là những đồi cà phê vối, chứ không phải lúa, chè hay cao su.
Cà phê vào Việt Nam: một cây trồng đến từ nơi khác
Theo các tài liệu lịch sử ngành cà phê hay dẫn, cây cà phê được người Pháp đưa vào Việt Nam từ khoảng giữa thế kỷ 19, đầu tiên ở một số nơi phía Bắc và miền Trung, chủ yếu là cà phê chè. Đây là thời kỳ cây được trồng thử, quy mô nhỏ, gắn với các cơ sở truyền giáo và người Pháp đến sớm. Cà phê vối, loài sau này chiếm áp đảo ở Tây Nguyên, đến muộn hơn, khi người ta nhận ra nó chịu bệnh và hợp vùng ấm tốt hơn cà phê chè.
Điều đáng nhớ là: cà phê không phải cây bản địa của Việt Nam, càng không phải của vùng hồ. Mọi giống cà phê đang có quanh hồ đều có gốc từ nơi khác, qua nhiều lần chọn lọc, nhân giống ở các trung tâm nghiên cứu và trong vườn người dân. Chuyện "giống cà phê Tà Đùng" theo nghĩa một giống riêng của vùng, vì vậy, là chuyện không có cơ sở; vùng hồ trồng những giống vối chung của Tây Nguyên.
Hiểu nguồn gốc này cũng giúp đặt đúng kỳ vọng: cái riêng của cà phê vùng hồ, nếu có, nằm ở đất, khí hậu và cách người ở đây làm, không ở một cây "đặc hữu" nào.
Đồn điền đầu thế kỷ 20 và cao nguyên đất đỏ
Những thập niên đầu thế kỷ 20, người Pháp mở các đồn điền trên cao nguyên Tây Nguyên, trong đó vùng quanh Buôn Ma Thuột là nơi cà phê phát triển sớm và mạnh. Đất đỏ bazan rộng, khí hậu có mùa khô rõ cho cây ra hoa đều, đó là những lý do kỹ thuật khiến cà phê bám rễ ở đây. Đồn điền cần đường sá, cần nhân công, và kéo theo một lớp dân cư mới lên cao nguyên.
Vùng Đắk Glong ngày nay khi đó còn là đất rừng, đồi núi hiểm trở dọc thượng nguồn sông Đồng Nai, nơi sinh sống của các cộng đồng tại chỗ. Không có tài liệu phổ biến nào ghi nhận đồn điền cà phê lớn ở đúng vùng hồ thời kỳ này; cây cà phê ở đây là câu chuyện của giai đoạn sau. Bài viết không đoán thêm khi chưa có nguồn.
Dù vậy, giai đoạn đồn điền để lại cho cả vùng một di sản kỹ thuật: kinh nghiệm trồng cà phê trên đất bazan, giống, cách tưới, cách phơi. Di sản đó truyền tay qua nhiều thế hệ người làm cà phê, và tới vùng hồ theo những người đến sau.
Những người đi lập nghiệp và đồi cà phê vối
Sau năm 1975, nhất là từ thập niên 1980 – 1990 trở đi, diện tích cà phê ở Tây Nguyên tăng rất nhanh. Việt Nam dần trở thành một trong những nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới, chủ yếu nhờ cà phê vối. Động lực của sự mở rộng đó, ngoài chính sách và thị trường, là những dòng người từ đồng bằng Bắc Bộ, các tỉnh miền núi phía Bắc và miền Trung lên cao nguyên tìm đất làm ăn, cả theo chương trình lẫn tự phát.
Vùng Đắk Glong cũ là một trong những nơi đón người đến muộn hơn các cao nguyên bằng phẳng. Đất dốc, đường khó, nhưng đất đỏ tốt. Người đến khai rẫy, trồng cây lương thực trước, rồi khi có chút vốn thì chuyển sang cà phê vối, xen hồ tiêu. Mỗi nhóm mang theo cách làm của quê cũ, học thêm từ hàng xóm người M'Nông, Mạ tại chỗ và từ những người đã làm cà phê lâu năm ở Đắk Mil, Buôn Ma Thuột.
Đây cũng là lý do vì sao ngay trong một thôn quanh hồ, bạn thấy nhiều kiểu vườn, nhiều cách pha cà phê buổi sáng, nhiều giọng nói. Cây cà phê ở đây gắn với câu chuyện di cư, lập nghiệp, chứ không phải với một truyền thống trồng lâu đời tại chỗ.
Vì sao cà phê vối thắng thế trên đồi đất đỏ vùng hồ
Cây lâu năm hợp với người mới khai rẫy. Người đến lập nghiệp cần một cây trồng một lần, thu nhiều năm, bán được ngay tại chỗ. Cà phê vối đáp ứng đúng nhu cầu đó: trồng vài năm là bắt đầu cho quả, sau đó thu hoạch hằng năm trong hàng chục năm nếu chăm tốt.
Thị trường có sẵn từ trước. Khi vùng Đắk Glong cũ mở rẫy, mạng lưới thu mua cà phê vối của Tây Nguyên đã hình thành. Người trồng không phải tự tìm đầu ra; đại lý tìm tới tận thôn. Đây là lợi thế mà một cây trồng mới lạ không có.
Đi cặp với hồ tiêu. Ở Đắk Nông cũ, vườn cà phê xen trụ tiêu là hình ảnh quen thuộc. Hai cây chia sẻ công chăm, tưới, phân bón, và giúp hộ trồng không phụ thuộc hoàn toàn vào giá một mặt hàng. Quanh hồ cũng vậy, dù tỉ lệ tiêu ở mỗi vườn khác nhau và thay đổi theo giá.
Cà phê chè không hợp độ cao và nhiệt độ. Vùng hồ ấm hơn các cao nguyên trồng cà phê chè quanh Đà Lạt. Thử chè ở đây thường cho quả kém, sâu bệnh nhiều, nên cây chè không trụ được trong vườn người dân.
Ranh giới hành chính đổi qua nhiều lần
Đắk Nông tách khỏi Đắk Lắk. Từ ngày 1/1/2004, tỉnh Đắk Nông được thành lập trên cơ sở tách ra từ tỉnh Đắk Lắk. Vùng hồ từ đó thuộc Đắk Nông, một tỉnh mà cà phê và hồ tiêu là cây chủ lực.
Huyện Đắk Glong ra đời. Ít năm sau, huyện Đắk Glong được lập trong tỉnh Đắk Nông, gồm các xã vùng cao phía đông tỉnh, trong đó có Đắk Som và Đắk R'Măng — hai xã mà năm 2025 hợp thành xã Tà Đùng.
Sáp nhập năm 2025. Từ ngày 1/7/2025, cả nước bỏ cấp huyện, sắp xếp lại tỉnh; Đắk Nông nhập vào Lâm Đồng, Đắk Som và Đắk R'Măng hợp thành xã Tà Đùng. Cây cà phê vẫn đứng đó, chỉ có địa chỉ trên giấy tờ là đổi.
Hệ quả với người làm cà phê. Giấy tờ đất, đăng ký kinh doanh, hồ sơ chứng nhận của nhiều hộ còn ghi tên cũ. Việc điều chỉnh làm theo hướng dẫn của chính quyền xã và cơ quan chuyên môn của tỉnh mới; nguyên tắc chung là kiểm quy định hiện hành trước khi làm thủ tục.
Hồ thủy điện Đồng Nai 3 vẽ lại cảnh vườn
Khi thủy điện Đồng Nai 3 chặn dòng và tích nước, những thung lũng thấp dọc sông Đồng Nai bị ngập, tạo nên mặt hồ mà nay ai cũng gọi là hồ Tà Đùng, với những đỉnh đồi nhô lên thành đảo. Như ở mọi công trình hồ chứa lớn, phần đất thấp trong vùng ngập không còn canh tác được, các vườn và nhà cửa phải ở trên cao trình mặt nước.
Với cây cà phê, hồ mang lại mấy thay đổi thấy được. Vườn giờ nằm trên sườn đồi đổ xuống mặt nước, nhiều chỗ dốc hơn trước. Không khí quanh hồ ẩm hơn, sương sớm dày hơn ở các thung lũng. Đường đi giữa các thôn phải vòng theo bờ hồ, việc chở quả, chở nhân dài hơn ở một số nơi. Đồng thời, cảnh hồ lại kéo khách tới, mở ra những nghề mới quanh ly cà phê như quán view hồ, chỗ ở, bán cà phê mang về.
Chuyện nước hồ có được dùng để tưới cà phê không là chuyện quản lý tài nguyên nước và an toàn hồ chứa, phụ thuộc quy định của cơ quan quản lý; người trồng cần hỏi chính quyền và đơn vị quản lý hồ trước khi đặt máy bơm, không tự ý khai thác.
Vườn quốc gia Tà Đùng: đường viền phía trên của vườn cà phê
Phía rừng của vùng hồ là Vườn quốc gia Tà Đùng, trước đây là Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng rồi được chuyển hạng lên vườn quốc gia. Rừng ở đây là rừng đặc dụng, có nhiều loài động thực vật quý, và là vùng đầu nguồn quan trọng của sông Đồng Nai. Trong ranh giới vườn quốc gia, không được mở rẫy, không được trồng cà phê.
Đối với nghề cà phê quanh hồ, ranh giới này có hai ý nghĩa. Thứ nhất, diện tích cà phê không thể mở rộng thêm vào rừng; muốn tăng thu nhập phải đi bằng năng suất, chất lượng và giá trị, không đi bằng diện tích. Thứ hai, khi các thị trường lớn đòi chứng minh cà phê không đến từ đất phá rừng, vị trí sát một vườn quốc gia khiến việc giữ hồ sơ ranh giới vườn rõ ràng trở nên quan trọng hơn ở nơi khác.
Với người đến uống cà phê bên hồ, nhìn lên dải rừng xanh thẫm phía trên các đồi cà phê là thấy ngay đường viền đó. Nó là một phần của cảnh, và một phần của câu chuyện mà cà phê vùng hồ có thể kể một cách trung thực.
Hôm nay: vườn già, tái canh và những cây trồng mới chen vào
Nhiều vườn cà phê quanh hồ đã qua vài chục năm tuổi. Cây già cho năng suất giảm, nhiều nhà phải tính chuyện ghép cải tạo hay nhổ trồng lại, chuyện được bàn kỹ trong danh mục giống và cây cà phê. Cùng lúc, một phần vườn được trồng xen hoặc chuyển dần sang sầu riêng, bơ, mắc ca khi giá các cây này hấp dẫn; cà phê vẫn là cây nền, nhưng không còn đứng một mình.
Một hướng khác là làm cà phê kỹ hơn để bán theo tên vùng: hái chín, phơi giàn, rang mộc, đóng gói nhỏ. Hướng này còn mới và quy mô nhỏ, nhưng là hướng duy nhất để cái tên "Tà Đùng" có ý nghĩa trên gói cà phê. Lịch sử ngắn của cây cà phê ở vùng hồ, vì vậy, vẫn đang được viết tiếp bởi chính người trồng.
Nếu muốn nghe câu chuyện riêng của một thôn, cách tốt nhất là ngồi uống ly cà phê sáng với người trồng lâu năm, hỏi họ đến vùng này năm nào, trồng cây cà phê đầu tiên ra sao. Những câu chuyện đó là phần lịch sử mà không tài liệu nào ghi đủ.
Câu hỏi thường gặp
Cà phê được đưa vào Việt Nam từ khi nào?
Theo các tài liệu lịch sử ngành hay dẫn, cây cà phê được người Pháp đưa vào Việt Nam từ khoảng giữa thế kỷ 19, ban đầu chủ yếu là cà phê chè ở phía Bắc và miền Trung. Cà phê vối đến sau và phát triển mạnh ở Tây Nguyên trong thế kỷ 20.
Vùng hồ Tà Đùng trồng cà phê từ bao giờ?
Không có tài liệu phổ biến ghi một mốc cụ thể. Cây cà phê ở vùng Đắk Glong cũ chủ yếu phát triển trong vài chục năm gần đây, theo chân những gia đình đến lập nghiệp, khai rẫy rồi chuyển sang trồng cà phê vối xen hồ tiêu.
Hồ Tà Đùng có phải hồ tự nhiên không?
Không. Hồ Tà Đùng là lòng hồ của thủy điện Đồng Nai 3, hình thành khi đập chặn dòng sông Đồng Nai và tích nước, làm ngập các thung lũng thấp. Những đỉnh đồi còn lại nhô lên thành các đảo nhỏ mà ảnh chụp hay thấy.
Vì sao không được trồng cà phê trong Vườn quốc gia Tà Đùng?
Vườn quốc gia là rừng đặc dụng, được bảo vệ để giữ hệ sinh thái và nguồn nước đầu nguồn. Việc mở rẫy, trồng cây trong ranh giới vườn quốc gia bị cấm theo pháp luật về lâm nghiệp. Vườn cà phê chỉ nằm trên đất sản xuất ngoài ranh giới đó.
Đắk Som và Đắk R'Măng nay là xã nào?
Từ ngày 1/7/2025, xã Đắk Som và xã Đắk R'Măng của huyện Đắk Glong cũ, tỉnh Đắk Nông, hợp thành xã Tà Đùng thuộc tỉnh Lâm Đồng. Giấy tờ và bao bì cũ vẫn có thể ghi tên hai xã này.
Có giống cà phê riêng của Tà Đùng không?
Không. Cà phê không phải cây bản địa của Việt Nam, và vùng hồ trồng các giống, dòng cà phê vối chung của Tây Nguyên. Cái riêng của cà phê vùng hồ, nếu có, đến từ đất, khí hậu và cách người trồng hái, phơi, rang.